Tìm hiểu về máy chụp ảnh

Máy ảnh SLR (Single-lens reflex camera: phản xạ một ống kính) là loại máy ảnh dùng một tấm gương di chuyển được, đặt giữa ống kính và phim để chiếu hình ảnh thấy được qua ống kính lên một màn ảnh mờ để người dùng lấy nét. Hầu hết các máy ảnh SLR dùng một lăng kính năm cạnh hoặc gương 5 cạnh ở trên đỉnh máy để quan sát ảnh qua lỗ ngắm, cũng có những kiểu ngắm khác như là ngắm ở ngang thân hay lăng kính Porro.

Hình cắt chiếu ngang của hệ thống SLR
Màn trập trong hầu hết các máy ảnh SLR thời nay được đặt ngay trước mặt phẳng hội tụ. Nếu không, người ta phải dùng thêm các cơ chế để ngăn ánh sáng lọt tới phim giữa các lần chụp. Ví dụ, máy Hasselblad 500C dùng một màn trập phụ ngoài màn trập trong ống kính.
Hình cắt chiếu ngang của các thành phần quang học của một máy ảnh SLR cho thấy ánh sáng đi qua ống kính (1), bị phản xạ ở mặt gương (2) và chiếu lên màn ảnh mờ (5). Qua thấu kính thu nhỏ (6) và phản xạ bên trong lăng kính năm cạnh ở trên đỉnh (7) ảnh hiện lên ở lỗ ngắm (8). Khi chụp ảnh, tấm gương di chuyển theo chiều mũi tên, màn trập ở mặt phẳng hội tụ (3) mở ra và ảnh được chiếu lên film hay bộ cảm biến giống hệt như ảnh trên màn ảnh mờ.
Điều khác biệt giữa máy ảnh SLR với các loại máy ảnh khác là người chụp ảnh nhìn thấy hình ảnh qua lỗ ngắm giống hệt như hình ảnh trên phim hay bộ cảm biến.
Kể từ khi công nghệ này trở nên phổ biến trong những năm 197x, SLR trở thành loại máy ảnh chính được các nhiếp ảnh gia nghiệp dư cũng như chuyên nghiệp dùng, mặc dù có một một số nhiếp ảnh gia chụp ảnh phong cảnh thích loại máy ảnh ngắm thẳng.

Olympus OM-2
Lịch sử
Máy ảnh SLR cho phim cỡ lớn được chế ra đầu tiên vào đầu thế kỷ 20. Ihagee Kine-Exakta là máy ảnh SLR 35mm đầu tiên và nó rất có ảnh hưởng. Các kiểu máy Exakta sau đó đều dùng cách ngắm ngang thân và được sản xuất cho tới Thế chiến thứ hai. Một ông tổ khác của các máy ảnh SLR hiện đại là Alpa của Thuỵ sĩ, có cải tiến và ảnh hưởng tới các máy ảnh Nhật sau này. Giải pháp lỗ ngắm ở trên được phát minh ở Hungary trong chiến tranh, chính xác là ngày 23 Tháng tám năm 1943 bởi Jenő Dulovits. Máy ảnh 35mm đầu tiên có lỗ ngắm ở trên là Duflex, thiết kế bởi Dulovits. Máy này dùng một hệ thống gương để chiếu một ảnh đúng chiều lên lỗ ngắm ở trên. Duflex được sản xuất hàng loạt năm 1948, và là máy ảnh SLR đầu tiên trên thế giới có tấm gương tự trở về vị trí ngay lập tức (sau khi chụp).
Máy ảnh SLR đầu tiên sản xuất hàng loạt với lăng kính năm cạnh trên đỉnh là Contax S của Đông Đức, năm 1949.
Người Nhật tiếp tục phát triển SLR. Năm 1952, Asahi làm cái Asahiflex, và Asahiflex IIB năm 1954. Năm 1957, Asahi Pentax giới thiệu máy ảnh SLR với lăng kính cố định và cần lên phim ở ngón tay cái bên phải. Nikon, Canon và Yashica cũng giới thiệu những mẫu đầu tiên của họ trong năm 1959 (hiệu F, Canonflex, và Pentamatic).
Bộ đo sáng qua ống kính (through-the-lense, TTL) xuất hiện trên các máy ảnh SLR vào đầu những năm 196x với Topcon RE Super (đo điểm) năm 1962 và Pentax Spotmatic (đo trung bình có trọng số trung tâm). Kế tiếp là tính năng tự canh sáng được giới thiệu năm 1971 ở máy Pentax Electro Spotmatic và phổ biến vào năm 1976 với Canon AE-1 Program, một trong những máy bán chạy nhất trong lịch sử. Không lâu sau là tính năng tự canh sáng theo các chương trình. Điện tử, tự động hoá và thu gọn, kể cả lên phim, trả phim bằng động cơ được ứng dụng ngày càng nhiều trong những năm 197x và 198x.
Tự động lấy nét Máy ảnh tự động lấy nét bằng phương pháp so sánh qua ống kính đầu tiên là Pentax ME-F. Máy Minolta Maxxum 7000 xuất xưởng năm 1985 là cái đầu tiên có tự lấy nét bằng động cơ, lên phim bằng động cơ, từ đó tính năng này trở thành tiêu chuẩn của máy SLR. Các nhà sản xuất khác đều tham gia thị trường tự lấy nét.
Từ cuối thập kỷ 1980, sự cạnh tranh và những cải tiến kỹ thuật làm cho các máy ảnh thông minh hơn với những cách đo sáng tiên tiến, và có sự liên lạc giữa các thành phần của máy. Phần giao tiếp với người sử dụng cũng thay đổi nhiều: thay kim chỉ thị và LED bằng LCD hiện nhiều thông tin hơn trong lỗ ngắm cũng như trên thân máy. Các nút vặn và nút bấm thay thế các vòng chỉnh màn trập và độ mở ống kính. Một số máy còn có tính năng chống rung giúp cho chụp ảnh với tốc độ chậm hơn mà không cần phải kê máy cố định.
Máy ảnh SLR số
Canon, Nikon, Samsung, Pentax, và Minolta đã sản xuất máy SLR số tương thích với các máy SLR phim của họ (gần đây Konica-Minolta bán bộ phận sản xuất máy ảnh SLR của họ cho Sony), trong khi Olympus và Panasonic giới thiệu những máy SLR số riêng, đó là thế hệ máy Bốn phần ba.
Khổ phim
Máy ảnh SLR được sản xuất cho hầu hết các khổ phim cũng như cho cảm biến số. Hầu hết các máy ảnh SLR dùng phim khổ 35mm, vì khổ này tối ưu nhất giữa chất lượng ảnh, kích thước và giá. Máy ảnh SLR với cỡ phim trung cho ảnh chất lượng cao hơn. Máy ảnh SLR số xuất hiện vào cuối thập kỷ 1990 và tới năm 2006 thì được dùng bởi hầu hết các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp cũng như nghiệp dư. Những máy ảnh SLR thời đầu được làm để dùng cỡ phim lớn nhưng hầu hết đều đã bị đào thải. Một số ít máy ảnh SLR dùng hệ phim APS, nhưng không phổ biến lắm. Cũng có máy SLR cho khổ phim nhỏ 110.
Những đặc điểm chung
Những đặc điểm nữa của các máy ảnh SLR là đo sáng qua ống kính và điều khiển đèn chớp rất tinh vi. Nhiều kiểu máy trên thị trường hiện nay đo ánh sáng thật sự tới phim và đóng màn trập khi đã đủ sáng.
Tương tự, chúng còn có thể phát ra nhiều chớp đèn ngắn, tính lượng ánh sáng dội trở lại từ đối tượng chụp, rồi mới phát ra một chớp vừa đủ cho tấm ảnh đẹp. Những máy tinh vi hơn còn giúp nhiếp ảnh gia cân bằng giữa đèn chớp và ánh sáng tự nhiên có sẵn để ra những kiểu ảnh theo yêu cầu. Những tính năng này được đưa vào những máy SLR hạng cao cấp trước rồi từ từ xuất hiện trên các máy kiểu khác.
Ưu điểm
Nhiều ưu điểm của máy ảnh SLR liên quan đến việc ngắm qua ống kính. Những máy ảnh kiểu khác không có khả năng này, người chụp phải ngắm qua một lỗ ngắm nằm cạnh ống kính và thấy hơi khác với hình chụp. Dùng máy SLR thì có thể tin chắc rằng ngắm thế nào thì chụp ra thế đó. Không có hiện tượng thị sai, độ nét được thấy trước khi chụp ở máy SLR nhất là khi chụp macro và khi dùng ống kính tele. Độ sâu vùng chụp có thể thấy ngay khi chỉnh độ mở ống kính. Nhiều cỡ ống kính và phụ tùng được sản xuất cho máy SLR.
So với những máy ảnh kiểu gọn hạng rẻ tiền, máy ảnh SLR hạng rẻ nhất cũng có nhiều độ mở ống kính hơn và ống kính mở rộng hơn (thường vào cỡ f/1,4 tới f/1,8 với ống kính 50mm). Như vậy nhiếp ảnh gia có thể chụp ảnh ở nơi ít sáng mà không cần đèn chớp, và có thể chọn độ sâu vùng chụp nhỏ, rất tiện để làm mờ nền đằng sau đối tượng chụp, làm nổi đối tượng hơn. Cách này thường được dùng để chụp ảnh chân dung.
Nhiều ống kính thay thế làm cho máy ảnh có thể dùng được trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, làm cho nhiếp ảnh gia có nhiều cách để thu hình hơn loại máy đơn giản. Ngoài ra, SLR có những ống kính với tiêu cự rất dài. Như vậy có thể chụp từ rất xa, rất tiện để chụp những đối tượng nguy hiểm (động vật hoang dã), hoặc khi không thể đến gần đối tượng.
Nhược điểm
Vì vướng gương và lăng kính, máy ảnh SLR không thể làm nhỏ gọn như các loại máy ảnh khác, như là máy kiểu gọn tự lấy nét và máy ảnh số với màn ngắm điện tử. Gương cũng cản không cho đặt ống kính gần phim hay bộ cảm biến, nghĩa là không thể làm ống kính wide một cách đơn giản, mà phải dùng kiểu ống kính tele ngược, kém hơn.
Gương của máy ảnh SLR che mất lỗ ngắm khi đang chụp. Ngoài ra việc di chuyển gương làm cho tốc độ chụp tối đa bị giới hạn, gương còn gây ồn và rung. Một số máy SLR dùng gương phản xạ một phần để tránh nhược điểm này, ví dụ như Canon Pellix, nhưng nó lại làm giảm lượng ánh sáng thu được. Để tránh ồn và rung, một số máy ảnh chuyên nghiệp có chế độ khoá gương, nhưng như vậy sẽ che hoàn toàn lỗ ngắm.
Hầu hết các máy ảnh SLR số không cho xem ảnh trên màn hình LCD trước khi chụp, như máy ảnh số gọn hay máy ảnh số lai. Như vậy chỉ có cách đưa mắt vào lỗ ngắm để chuẩn bị chụp (ngoại lệ là máy Olympus E-330, Panasonic DMC-L1, Leica Digilux 3). Cũng không có chức năng quay phim. Cho tới năm 2006, công nghệ bộ cảm biến và màn hình vẫn chưa khắc phục được nhược điểm này để máy ảnh số SLR được chấp nhận rộng rãi bởi thị trường chuyên nghiệp và nghiệp dư cao cấp.
Giá của máy ảnh SLR thường đắt hơn các kiểu máy khác vì các cơ cấu phức tạp bên trong. Tính thêm các phụ tùng như đèn chớp, ống kính các cỡ thì còn đắt hơn nữa. Do đó số tiền cần cho một bộ máy SLR vượt quá khả năng của nhiều người chụp ảnh không chuyên.
Ngoài ra còn phải kể đến mức độ hư hỏng cũng cao hơn các kiểu máy đơn giản có chất lượng tương đương khác vì có nhiều chi tiết chuyển động bên trong. Tuy nhiên vì máy ảnh SLR không dành cho dân nghiệp dư, nên nó thường được làm theo những tiêu chuẩn cao hơn các kiểu máy khác, do đó thật sự thì bền chắc hơn. Bởi vì máy SLR thay ống kính được nên có khả năng lọt bụi bẩn vào thân máy gây kẹt gương, thậm chí làm kẹt hệ thống lấy nét của ống kính. Để giảm bớt một phần nguy cơ này, một số máy ảnh số có bộ phận tự lau bộ cảm biến.

Cấu tạo máy ảnh cơ (SLR)và máy ảnh kỹ thuật số (DSLR)

Có lẽ một trong những câu hỏi hay được nhiều người đặt ra trước khi quyết định từ giã cách chụp ảnh bằng phim truyền thống để bước vào thế giới của kỹ thuật số là: máy ảnh kỹ thuật số (DSLR) khác máy ảnh Cơ (SLR) ở chỗ nào?
Có lẽ cũng khỏi cần phải nói tới những tiện dụng và những khả năng kỳ diệu của kỹ thuật số đang mang lại cho cuộc sống của chúng ta hàng ngày nữa. Riêng trong lĩnh vực nhiếp ảnh thì bước đột phá này cũng rất ngoạn mục.

Nhìn thoáng qua tấm hình trên đây chắc bạn cũng đã nhận ngay ra sự khác biệt của kỹ thuật số rồi nhỉ. Thay vào vị trí quen thuộc của phim âm bản hay dương bản là một mạch điện tử cảm quang nom rất…đơn giản. Ta cũng không cần phải mở nắp máy phía sau ra để lắp phim nữa mà một mảnh nhựa nhỏ với những mạch điện tử ly ti đã khẽ khàng lách vào bên sườn máy ảnh thay cho những cuộn phim cồng kềnh làm nhiệm vụ lưu giữ ảnh. Còn một bộ phận cực kỳ quan trọng nữa mà chúng ta không nhìn thấy ở đây, một yếu tố mang tính quyết định cho sự khác biệt giữa các đại gia máy ảnh về chất lượng, đó là phần mềm xử lý ảnh – như một bộ xử lý nhỏ của máy tính – nằm ngay trong thân máy ảnh.
Trên đây là hình ảnh của mạch điện tử cảm quang hiện đại nhất do hãng Nikon phát minh và chế tạo. Chính nó đã tạo nên điều kỳ diệu mà không một chiếc máy ảnh nào khác có thể sánh nổi với chiếc Nikon D2H.
Trước khi quay lại với cấu trúc của các loại mạch điện tử cảm quang thì có lẽ chúng mình cũng nên đề cập một chút tới cái mà gần như ai cũng biết, đó là PIXEL. Nó là chữ viết tắt nhằm thể hiện Picture ELement – yếu tố cấu thành của ảnh kỹ thuật số. Ta hãy gọi nôm na là Điểm ảnh. Mỗi một bức ảnh được tạo nên bởi vô số Điểm ảnh. Mỗi Pixel mang một số thự tự riêng từ 0 tới 255 (giống như phổ màu căn bản của AutoCAD vậy) Tuỳ thuộc vào hơn 16 triệu cách kết hợp khác nhau giữa các pixel của 3 kênh mầu Red – Green – Blue (Đỏ – Xanh lá cây – Xanh da trời) mà sẽ tạo nên vô số màu khác nhau. Nếu nói theo ngôn ngữ của tin học thì mỗi một mầu tương đương với 8 Bit (Byte) và mầu của mỗi một pixel được tạo nên bởi 3 mầu kết hợp RGB. Ta vẫn hay nghe nói tới các tấm ảnh kỹ thuật số có “độ sâu” khác nhau như 16 bit (8 bit x2), 24 bit (8 bit x3), 36 bit (12 bit x3), 48 bit (16 bit x3).
Hiểu rõ kỹ thuật tạo hình ảnh của máy kỹ thuật số có lẽ là cách hay nhất để nhận ra sự khác biệt với máy ảnh cơ.
Như ta đã nói ở trên về cấu tạo, khi ánh sáng đi qua ống kính máy ảnh sẽ gặp một mạch điện tử cảm quang với hệ thống lọc mầu ánh sáng, chuyển thành tín hiệu điện tử. Hiện tượng này tương đương với phản ứng hoá học của phim âm bản hay dương bản. Tiếp theo đó máy ảnh sẽ xử lý những tín hiệu điện tử này để tái tạo lại mầu sắc trung thực của hình ảnh (quá trình này tương đương với việc làm trong phòng rửa ảnh cổ điển) và bạn có thể lưu trữ hình ảnh nguyên gốc hay được nén gọn lại trên các thiết bị lưu trữ (ta vẫn gọi là Memory Card).
Trên thị trường hiện tại tồn tại hai loại mạch điện tử cảm quang là: CCD (Charge-Coupled Devices) và CMOS (Complementary Metal-Oxide Semiconductor). Hãng Nikon mới nghiên cứu thành công một loại thứ 3 kết hợp được những ưu điểm của cả hai loại trên là LBCAST (Lateral Burried Change Accumulator and Sensing Transitor Array). So với CCD và CMOS thì LBCAST dùng tốn ít năng lượng hơn, ít lỗi hạt ảnh hơn, đồng thời nó góp phần làm tăng tốc độ xử lý ảnh, làm tăng độ nhạy, độ tương phản và tái tạo màu sắc trung thực hơn.
Nhưng cũng chính tại thiết bị đặc biệt này mà ta thấy rõ ràng sự khác biệt giữa phim cổ điển và kỹ thuật số. Loại phim mà chúng ta vẫn hay dùng (thường được gọi là phim 35mm hay 135) có kích thước chiều rộng 36mm x chiều cao 24mm, tỉ lệ hai cạnh thường được quy gọn thành 3:2. Đa phần thì các máy ảnh cơ kỹ thuật số có cùng tỉ lệ này nhưng các máy Digital Compact Camera thường hay có tỉ lệ 4:3 giống như tỉ lệ của màn hình máy tính. Điều này gây ra sự khó chịu nhỏ khi bạn muốn in ảnh kỹ thuật số được chụp với tỉ lệ 4:3 ra giấy vì nếu giữ đúng tỉ lệ tấm ảnh của bạn sẽ là 115mm x 150mm, còn nếu bạn muốn giữ nguyên chiều cao 100mm thì chiều rộng của ảnh sẽ bị ngắn lại.
Với hệ thống máy Digital Compact bạn thường hay gặp các Sensor với kích thước nhỏ như: 1/2.7″ hay 1/1.8″. Đối với loại máy dSLR thì kích thước của Sensor lớn hơn, ví dụ như Nikon D2H là 23,1mm x 15,5mm, so với phim 24mm x 36mm thì tỉ lệ chênh lệch là 1,5.
Đến đây ta có thể dễ dàng hiểu ngay tại sao trên các máy Digital Compact ống kính zoom thường có các tiệu cự rất nhỏ (ví dụ như máy Minolta Z1 có zoom x10: 5,8mm – 58mm tương đương 38 – 380mm với phim 35mm) Để quy đổi sang tiêu cự tương đương 24×36 ta phải nhân tiêu cự gốc của máy ảnh kỹ thuật số với tỉ lệ chệnh lệnh. Chẳng hạn như ở đây tỉ lệ chênh lệch của môt CCD 1/2.7″ là 38/5,8 = 6,55 lần.
Sự khác biệt khá quan trọng này khiến cho các ống kính vẫn được coi là góc rộng của phim 35mm bỗng trở thành….télé! Ta lấy ví dụ của máy Nikon D2H, tỉ lệ chênh lệch là 1,5 thì tiêu cự 28mm x 1,5 = 42mm, nghĩa là gần bằng ống kính tiêu chuẩn (Ống kính mà ta vẫn hay “gọi” là 50mm thực ra chỉ có 45mm mà thôi) Từ đó phát sinh ra nhu cầu dùng các ống kính góc siêu rộng, thậm chí ống kính mắt cá để chụp với thân máy ảnh kỹ thuật số. Chẳng hạn một loại ống kính mới của Nikon: AF-S DX Zoom-Nikkor 17-55mm f/2.8G IF-ED (3.2x) khi dùng với Nikon D2H sẽ trở thành 25,5 – 82,5mm.
Nếu như với các phim phổ thông ta hay nói về nhiệt độ mầu thì tương đương trong kỹ thuật số ta có khái niệm Cân bằng trắng (White Balance). Thường thì trong các máy ảnh kỹ thuật số Cân bằng trắng được chỉnh tự động tuỳ theo ánh sáng môi trường để đạt tới độ trung thực cao nhất của màu sắc nhưng bạn vẫn hoàn toàn có thể lựa chọn các chế độ ánh sáng theo ý của mình như ánh sáng ban ngày, ánh sáng đèn dây tóc vàng, ánh sáng đèn nê-ông….
Khác với phim âm bản hay dương bản, với kỹ thuật số bạn có thể lựa chọn cấu trúc của ảnh để lưu trữ. Có rất nhiều hình thức khác nhau: RAW, TIFF, JPEG…Ở hai loại đầu tiên thì hình ảnh được lưu trữ nguyên thể, không bị nén hoặc được nén với tỉ lệ thấp để đảm bảo tính trung thực và chất lượng hình ảnh (để xử lý sau này trên máy tính), còn ở dạng JPEG thì ảnh có thể sẽ được nén gọn lại tới 40 lần, tiện lợi cho việc gửi qua internet.

Lựa chọn ống kính camera phù hợp

Để chọn tiêu cự ống kính phù hợp với yêu cầu quan sát, chúng ta tham khảo bảng đối chiếu sau:


Choosing the right lens

Once you have selected a network camera, the next step is to select the appropriate lenses and any other relevant components necessary in the system.
There are two main lens mount standards called C-mount and CS-mount. They both have a one-inch thread and they look the same. What differs is the distance from the lenses to the sensor when fitted on the camera:
•CS-mount. The distance between the sensor and the lens should be 12.5 mm
•C-mount. The distance between the sensor and the lens should be 17.5 mm. A 5 mm spacer (C/CS adapter ring) can be used to convert a C-mount lens to a CS-mount lens
The initial standard was C-mount, while CS-mount is an update to this, allowing for reduced manufacturing cost and sensor size. Today, almost all cameras and lenses sold are equipped with a CS-mount. It is possible to mount an old C-mount lens to a camera with CS-mount by using a C/CS adapter ring. If it is impossible to focus a camera, you probably have the wrong type of lens.

Sensor size
Image sensors are available in different sizes, such as 2/3″, 1/2″, 1/3″ and 1/4″, and lenses are manufactured to match these sizes. It is important to select a lens suitable for the camera. A lens made for a 1/2″ sensor will work with 1/2″, 1/3″ and 1/4″ sensors, but not with a 2/3″ sensor.

If a lens is made for a smaller sensor than the one actually fitted inside the camera, the image will get black corners. If a lens is made for a larger sensor than the one actually fitted inside the camera, the angle of view will be smaller than the default angle of that lens – part of the information being “lost” outside of the chip (see illustration below).

Focal length
Focal length determines the horizontal field of view at particular distances – the longer the focal length, the narrower the field of view.
Examples of focal length needed to achieve an approximate 30° horizontal field of view

Lens and sensor size1/2″1/3″1/4″
Focal length12 mm8 mm6 mm

Most manufacturers provide simple-to-use slide and rotary calculators that calculate the lens’ focal length from the scene size and focal length.
To detect the presence of someone on a display, they should make up at least 10 per cent of the height of the image. To accurately identify them, they should make up 30 per cent or more of the image.
For this reason, it is important to check the capabilities of selected cameras and view the resulting images on screen before going live.

Calculation – feet
What width of objects will be visible at 10 feet when using a camera with a 1/4″ CCD sensor and a 4 mm lens? H = D x h / f = 10 x 3.6 / 4 = 9 feet
Calculation – meters
What width of objects will be visible at 3 meters when using a camera with a 1/4” CCD sensor and a 4 mm lens? H = D x h / f = 3 x 3.6 / 4 = 2.7 meters
Lens types
•Fixed lens: The focal length is fixed, e.g. 4 mm
•Varifocal lens: This lens allows for the manual adjustment of the focal length (field of view). When the focal length is changed, the lens has to be refocused. The most common type is 3.5-8 mm
•Zoom lens: The focal length can be adjusted within a range, e.g. 6 to 48 mm without affecting the focus. The lens can either be manual or motorized, so that it can be controlled remotely.

Varifocal lens

Fixed lens

Iris
Generally network cameras control the amount of light passing to the imaging device via the iris or by adjusting the exposure time. In conventional cameras, exposure time is fixed. The role of the iris is to adjust the amount of light passing through the lens. There are different types of irises on lenses:
Manual iris control
The iris on a manual iris lens is usually set up when the camera is installed to suit the prevailing lighting conditions. These lenses cannot react to changes in scene illumination so the iris is set to an “average” value, which is used in conditions with varying light.
Automatic iris control
For outdoor conditions, and where the scene illumination is constantly changing, a lens with automatically adjustable iris is preferred. The iris aperture is controlled by the camera and is constantly changed to maintain the optimum light level to the image sensor.
•DC-controlled iris: Connected to the output of a camera, the iris is controlled by the camera’s processor
•Video-controlled iris: The iris is controlled by video signal
Auto iris lenses are recommended for outdoor applications. The iris automatically adjusts the amount of light reaching the camera and gives the best results, as well as protecting the image sensor from too much light. A small iris diameter reduces the amount of light, giving a better depth of field (focus over a greater distance). A large iris diameter, on the other hand, gives better images in low light. The iris is defined by the F-number.
F-number = Focal length / Iris diameter
The f-number of a lens is the ratio of the focal length to the effective object lens diameter. It affects the amount of light energy admitted to the sensor and plays a significant part in the resulting image.
The greater the f-number, the less light admitted to the sensor. The smaller the f-number, the more light admitted to the sensor, and hence better image quality is achieved in low-light situations. The table below shows the amount of light admitted to the image sensor at sample f-values.
F-numberf1.0f1.2f1.4f1.7f2.8f4.0f5.6
% of light passed2014.14107.072.51.250.625

In scenes with limited light, fitting a neutral density filter in front of the lens is recommended. This works to reduce the amount of light entering the lens evenly over the whole visible spectrum and forces the iris to open fully to compensate for this. Many network cameras today offer automatic iris control to ensure that the image remains clear throughout the year and time of day as light levels constantly change.

Sau khi đã sắm cho mình một thân máy ảnh ưng ý, dù đó là máy cơ chụp thủ công hay máy ảnh số DSLR, điều còn lại làm nhiều người chơi ảnh, kể cả dân chuyên nghiệp phải băn khoăn suy tính, cân đối túi tiền và giá trị sử dụng cũng như chất lượng hình ảnh chính là tìm kiếm những ống kính phù hợp với mục đích chụp ảnh của mình.

Một thân máy hoàn hảo trong tay một người sành sỏi về kỹ thuật sử dụng và nghệ thuật nhiếp ảnh cũng không thể thiếu một ống kính chất lượng cao mới cho ra đời được những tác phẩm hài lòng người xem. Dù túi tiền eo hẹp đến đâu, thì lời khuyên đầu tiên vẫn là hãy tập trung mua 01 (viết bằng chữ: Một) ống kính chất lượng còn hơn sắm hai hay nhiều ống kính rẻ tiền kém chất lượng, bởi bạn luôn có cơ hội mua thêm ống kính sau này để sử dụng lâu dài ngay cả khi bạn muốn nâng cấp thân máy lên những đời máy hiện đại hơn. Một ống kính có chất lượng cao luôn là tài sản đáng giá với giá trị “thanh khoản” cao của nhiếp ảnh gia. Ống kính có tốt luôn nên được cân nhắc kỹ lưỡng hơn một thân máy tốt và mới giúp bạn ghi lại những hình ảnh chất lượng. Hãy luôn luôn cân nhắc để tậu một ống kính tốt nhất với túi tiền mà bạn hiện có, bạn sẽ không bao giờ phải hối hận vì đã mua một ống kính chất lượng cao.

Các tiêu chí để đánh giá chất lượng một ống kính

Sau khi đã quyết định mục đích chụp ảnh để chọn mua loại ống kính thích hơp, người chơi ảnh cần cân nhắc các tiêu chí tạo thành một ống kính chất lượng tốt:
- Chất lượng các thấu kính / loại kính sử dụng để chế tạo các thấu kính và đặc tính của các chất liệu đó
- Các lớp phủ bề mặt thấu kính
- Mức độ quang sai (gồm cầu sai và sắc sai)
- Mức độ chắc chắn của kết cấu ống kính, vỏ ống kính
- Khả năng căn nét chính xác nhanh, êm; các chuyển động bên ngoài vỏ ống kính trong quá trình căn nét
- Các tính năng như căn nét tự động, chống rung, chống lóa cục bộ, chống hiện tượng bóng ma, v.v…
- Các tiện ích trong khi sử dụng như các lẫy chuyển đổi, khóa tụt ống, các vòng hiệu chỉnh, v.v…
- Các đặc điểm khác chất liệu vỏ ống kính, kích thước và trọng lượng của ống, v.v…

Nhưng làm thế nào để có thể lựa chọn ống kính phù hợp với mục đích sử dụng? Để làm được điều này, bạn cần hiểu được tính năng của các loại ống kính để lựa chọn ống kính phù hợp. Sau đây là các loại ống kính với những tính năng đặc trưng giúp bạn trả lời được những câu hỏi thường thấy nhất khi lựa chọn các loại ống kính.

Có nên chọn mua ống kính “kit” được quảng cáo bán kèm theo máy?

“Kit” là từ tiếng Anh có nghĩa là “bộ dụng cụ đi kèm với nhau” hay “theo bộ”. Các ống này thường được tung ra thị trường kèm với một hay nhiều loại thân máy mà nhà sản xuất quảng bá. Đặc điểm của các ống này là có giá tiền trung bình nhưng chất lượng thường vào loại “xoàng”, chủ yếu phục vụ những người mới chơi máy ảnh hay có “tài khoản” quá eo hẹp nhưng vẫn có ống kính mà chụp – vì bạn không thể chụp ảnh chỉ bằng thân máy DSLR được! Chất lượng các ống này thấp hơn nhiều so với các ống kính bán rời; giá thành và giá bán rẻ bởi mỗi thứ đều được “bớt” đi một chút như loại kính sử dụng rẻ tiền hơn, công nghệ thấp hơn, v.v… Cực chẳng đã mới phải mua một ống “kit” để chơi tạm; còn nói chung, nếu bạn thấy có thể “cố dấn” lên đôi chút thì nên suy nghĩ lại và tìm mua các ống kính chất lượng cao bởi ngoài chất lượng kém hơn, những ống “kit” này còn khó bán lại sau này khi bạn nhận ra chất lượng trung bình của ống. Điển hình là ống Canon EF-S 18-55mm f/3,5-5,6 dành cho các dòng từ EOS 400D trở về trước, từ EOS 450D hay 1000D được cải tiến với EF-S 18-55mm IS f/3,5-5,6 có tính năng chống rung, thuận tiện hơn cho người sử dụng, hay Nikon có AF-S DX NIKKOR 18-55mm f/3.5-5.6G VR cũng có tính năng chống rung.

Canon EF-S 18-55mm f/3,5-5,6


Canon EF-S 18-55mm f/3,5-5,6 IS


AF-S DX NIKKOR 18-55mm f/3.5-5.6G VR

Nên chọn ống kính tiêu cự cố định (prime lens) hay ống kính tiêu cự thay đổi có thể phóng to thu nhỏ (zoom lens)?

Ống kính tiêu cự cố định (prime / fixed lens) chỉ có một tiêu cự duy nhất; ngược lại các ống zoom có tiêu cự thay đổi giúp bạn đặt máy ở một vị trí cố định nhưng vẫn có thể xoay hay kéo zoom để thu gần khoảng cách chụp – tức thu hẹp hay phóng lớn góc ảnh. Một trong những loại ống kính tiêu cự cố định phổ biến nhất là ống tiêu cự 50mm (trước kia thường bán kèm theo các máy cơ). Ống tiêu cự 50mm được coi là một ống tiêu chuẩn và có góc ảnh và phối cảnh giống với mắt thường nhất. Đặc điểm của các ống tiêu cự cố định là cho hình ảnh độ chính xác quang học cao. Để chụp được hình ảnh trung thực nhất, nên chọn các ống kính cố định. Các ống tiêu cự cố định cũng thường được sử dụng để chụp chân dung với chất lượng hình ảnh cao và thường được sản xuất ở tiêu cự khoảng 70mm-135mm như Nikon 80mm, 105mm hay Canon 85mm, 100mm, 135mm bởi những hiệu ứng xóa phông (shallow depth of field/ DOF) vừa phải của tầm tiêu cự này, còn được gọi là tầm tiêu cự chụp xa trung bình medium telephoto).

Tuy nhiên, với các ống tiêu cự cố định bạn sẽ phải tiến lại gần chủ thể để chụp cận cảnh hơn hay tiến ra xa để mở rộng góc nhìn, vì thế không đạt được tính “đa năng” như các ống zoom đem lại. Trong nhiều trường hợp cần thay đổi nhanh tiêu cự, bạn sẽ cần tới một ống zoom có khả năng nhanh chóng thay đổi tiêu cự – bằng cách xoay vòng tiêu cự hoặc kéo ra kéo vào – để nhanh chóng đưa hình ảnh xa hay gần vào khuôn hình theo tỷ lệ mong muốn. Tuy nhiên, nhược điểm của các ống zoom thường là chất lượng hình ảnh không sắc nét bằng các ống tiêu cự cố định, nhiều ống hạn giá thành thấp thường có chất lượng không ổn định và “công lực” thay đổi theo chiều dài tiêu cự do những thách thức về công nghệ sản xuất ống kính. Bạn luôn phải cân nhắc để dung hòa giữa mức độ tiện lợi của một ống zoom so với chất lượng vượt trội của một ống kính tiêu cự cố định trong khi quyết định sử dụng một trong hai loại.

Nên mua ống kính chính hãng hay của các hãng sản xuất ống kính độc lập?

Các ống kính của chính các hãng sản xuất máy ảnh nổi tiếng như Nikon, Canon hay Pentax thường cho chất lượng hình ảnh và độ tương thích tốt nhất khi sử dụng với các thân máy của chính hãng đó sản xuất. Tuy nhiên, những ống kính chính hãng bao giờ cũng có giá rất cao, khiến nhiều người chơi ảnh nghiệp dư không thể theo kịp; hơn nữa không phải ống kính chính hãng nào cũng đều hoàn hảo cũng như hoạt động đúng với những gì mà hãng đó quảng cáo. Cách tốt nhất để tìm hiểu về một ống kính cụ thể là phải chụp thử để kiểm tra và phân tích chất lượng để đi đến kết luận thực tế; trong trường hợp không có điều kiện chụp thử, bạn có thể tìm hiểu các bài đánh giá (review) cho ống kính bạn đang quan tâm của các chuyên gia để có được quyết định chính xác nhất với khoản tiền đầu tư không nhỏ của mình.

Một giải pháp khác là sử dụng ống kính của các hãng chuyên sản xuất ống kính phục vụ cộng đồng nhiếp ảnh đa dạng như các hãng Tamron, Tokina hay Sigma. Mặc dù có giả cả thông thường rẻ hơn, có cái cùng chủng loại với ống chính hãng nhưng rẻ tới một nửa giá, các ống này trước đây có thể không được nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp đánh giá cao vì chất lượng thấp, vả lại “dân chơi” hay có tâm lý chê bai, coi thường những ai chơi ống “pho” (for: dành cho) vì cho như vậy là không sành điệu. Tuy vậy, trong thời gian gần đây, các hãng chuyên sản xuất các ống “pho” này đã có những tiến bộ vượt bậc về công nghệ và cho ra lò những ống kính sánh ngang ngửa với các ống kính chính hãng có cùng tính năng, ở một số trường hợp thậm chí còn vượt mặt ống kính chính hãng về độ sắc nét và chất lượng hình ảnh. Nếu thật sự ngân quĩ chưa cho phép bạn chơi những ống chính hãng nổi tiếng về chất lượng, hãy đừng ngần ngại thử nghiệm – và qua các bài đánh giá cửa giới chuyên nghiệp – các ống “pho” để có công cụ phù hợp giúp bạn sáng tạo với tay máy và con mắt nghệ thuật của mình.

Nên chọn ống kính tiêu cự loại nào?

Ống kính máy ảnh có thể được phân loại theo tầm tiêu cự của ống. Thông thường có ba loại: (1) ống tiêu chuẩn (standard), ống góc rộng (wide angle) và ống chụp xa tê-lê (telephoto).

Phân loại ống kính theo tiêu cự:
- Ống kính góc siêu rộng (super/ extreme wide angle lens): Có tiêu cự dưới 21mm (dành cho chụp ảnh kiến trúc)
- Ống kính góc rộng (wide angle lens): Tiêu cự 21-35mm (dùng cho chụp ảnh phong cảnh)
- Ống kính tiêu chuẩn / thông thường (standard/normal lens): Tiêu cự 35-70mm (chụp đường phố, ảnh tư liệu)
- Ống kính tê-lê tầm trung (medium telephoto lens): Tiêu cự 70-135mm (chụp chân dung)
- Ống kính tê-lê tầm xa (telephoto lens): Tiêu cự 135mm và dài hơn (chụp thể thao, chim trời, động vật hoang dã, v.v…)
* Ghi chú: Các tiêu cự này qui chuẩn theo máy ảnh toàn khổ 35mm. Đối với các máy ảnh DSLR có gắn cảm biến cúp nhỏ (ASP-C) cần nhân với hệ số cúp nhỏ (crop factor) để có tiêu cự tương ứng.

Khi nào sử dụng ống góc rộng và siêu rộng?

Các ống góc rộng và siêu rộng có khả năng thu gọn vào khuôn hình một khoảng không gian lớn hơn (góc ảnh rộng hơn) và có tính năng tạo được chiều sâu ảnh trường (depth of field / DOF) rất sâu khiến tất cả các đối tượng trong khuôn hình đều căng nét. Điều này cho thấy các ống kính góc rộng phù hợp với chụp ảnh phong cảnh với không gian rộng lớn và đòi hỏi mọi đối tượng trong khuôn hình đều căng nét. Các ống góc siêu rộng giúp nhiếp ảnh gia chụp được những vật thể đồ sộ ở khoảng cách (distance) ngắn hơn nên rất phù hợp với chụp ảnh kiến trúc.

Khi nào sử dụng ống kính chụp xa tê-lê?

Ngược lại với các ống kính góc rộng, các ống kính tê-lê cho phép đưa các chủ thể nhỏ ở xa vào đầy khuôn hình, cộng với tính năng tạo ảnh trường nông nên rất phù hợp với các mục đích chụp thể thao cận cảnh các vận động viên, chụp chim trời bay lượn hay động vật hoang dã mà nhiếp ảnh gia không thể tiếp cận gần hơn khi chụp. Các ống tê-lê tầm trung, với tính năng tạo chiều sâu ảnh trường ở mức vừa phải nên phù hợp với mục đích xóa phông (blur background) hay tạo bokeh (hiện tượng nhòa mờ và mịn ngoài vùng căn nét) nên phù hợp với chụp ảnh chân dung trong đó chủ thể cần được làm nổi bật và sắc nét để thu hút sự chú ý của người xem hơn so với hậu cảnh và xung quanh bị nhòa mờ.

Ống kính macro/micro và tính năng sử dụng

Các ống kính macro (macro lens – riêng Nikon gọi là micro lens), đúng như tên gọi của nó, được sử dụng để chụp cận cảnh phóng to các chủ thể có kích thước rất nhỏ như côn trùng, hoa lá hay các chi tiết máy nhỏ xíu. Hình ảnh sẽ được phóng to sau khi chụp để làm lộ rõ những chi tiết mà mắt thường không thể nhìn rõ được. Với công dụng phóng to hình ảnh như có ở kính hiển vi, người chụp có thể căn nét để chụp các đối tượng có kích thước bé ở cự ly rất gần, ví dụ 5cm mà các ống kính thông thường không thể làm được. Ống kính macro cho những hình ảnh nhiều chi tiết và có độ sắc nét cao. Do khi sử dụng ống macro để căn nét chính xác, nhiếp ảnh gia thường chuyển sang chế độ căn nét thủ công (manual focus) nên ở nhiều ống kính macro (hoặc chuyển sang chức năng macro) không có chế độ căn nét tự động (autofocus/AF). Các ống kính macro có tầm tiêu cự tê-lê trung bình cũng có thể sử dụng để chụp ảnh chân dung với chất lượng rất tốt.

Ống kính có chức năng điều chỉnh phối cảnh (perspective/shift control lens)

Trong trường hợp muốn chụp các chủ thể rất cao như các tòa nhà, để tránh hiện tượng hình ảnh bị đổ ngửa về phía trước quá mức do máy phải đặt chụp theo một góc nghiêng từ dưới mặt đất mới thu được toàn bộ chiều cao của tòa nhà, người ta sử dụng các ống kính cho phép điều chỉnh phối cảnh để có thể đặt máy thẳng đứng mà vẫn chụp hết được chiều cao cần chụp. Đây là những ống kính rất đắt tiền do đòi hỏi công nghệ sản xuất phức tạp và số lượng sản xuất hạn chế.

Ống kính tốc độ nhanh (high speed lens)

Bạn có thể ngạc nhiên vì ống kính cũng có tốc độ! Quả thực khái niệm này đã làm nhiều người mới chơi ảnh thắc mắc. Vấn đề không đến nỗi khó hiểu nếu bạn biết được rằng tốc độ ở đây chính là khẩu độ mở. Do mỗi ống kính đều có giới hạn khẩu độ mở lớn nhất (maximum aperture) nên ảnh hưởng tới tốc độ cửa chập để tạo giá trị phơi sáng thích hợp cho ảnh. Về cấu tạo, mỗi ống kĩnh đều có một lỗ điều tiết ánh sáng lọt qua để đi tới phim hay cảm biến (sensor). Mục đích chính của việc điều chỉnh mở to lỗ lọt sáng này (aperture) là để ánh sáng thu vào nhiều hơn, làm cho ảnh sáng hơn. Điều này đồng nghĩa với việc tạo điều kiện tăng tốc độ cửa chập (shutter speed) mà hình ảnh vẫn đủ sáng trong điều kiện ánh sáng yếu. Vì vậy các ống kính có khẩu độ mở tối đa lớn, thường từ f/2.8 trở xuống – Chú ý: chỉ số khẩu độ mở càng nhỏ thì khẩu độ mở càng lớn – được gọi là các “ống kính tốc độ nhanh”. Các ống kính có khẩu độ mở lớn thường có giá rất cao do đòi hỏi công nghệ sản xuất phức tạp hơn.

Ống kính chống rung

Một trong những điều kiện tiên quyết đối với nhiếp ảnh gia là tay máy không được rung vì nếu rung máy lúc bấm chụp, hình ảnh sẽ bị nhòe và bức ảnh coi như bỏ đi dù ánh sáng có đẹp đến đâu chăng nữa. Trên thực tế, độ nét của hình ảnh luôn được ưu tiên hàng đầu và vì thế chân máy (tripod) luôn là người bạn thân thiết với ngay cả nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp. Tuy nhiên, trong nhiều bối cảnh chụp ảnh, bạn sẽ không thể mang theo hoặc đủ thời gian và không gian để thong thả đặt máy lên chân máy và ngắm nghía hồi lâu mới bấm máy. Để khắc phục hiện tượng rung tay máy khi chụp cầm tay (hand holding) bạn cần học các tư thế ép cánh tày, tỳ máy lên trán, v.v… nhưng đôi khi không khắc phục hết hiện tượng này ở những tốc độ chụp chậm tối thiểu cho phép. Tuy nhiên, nỗi lo rung máy phần nào đã được làm vợi bởi những công nghệ sản xuất ống kính hiện đại đã cho ra đời nhiều loại ống kính có chức năng chống rung với đủ loại tên gọi khác nhau như VR (vibration reduction) của Nikon, IS (image stablization) của Canon hay VC (vibration compensation) của Tamron. Dù với tên gọi nào, tựu chung cũng chỉ thực hiện một chức năng duy nhất là chống rung. Các ống kính chống rung được sản xuất với nhiều công nghệ khác nhau như gắn cảm biến nhận biết tần số rung để điều chỉnh một hay nhiều thấu kính hay tích hợp hệ thống trượt tự động cho các thấu kính, v.v… Có nhiều ống kính chống rung trên thực tế có thể giảm rung tới 4 bước (4 stops), tức là có thể giúp bạn giảm tốc độ chụp xuống 4 cấp mà vẫn không bị nhòe ảnh, tạo điều kiện chụp ảnh có ánh sáng đẹp trong những hoàn cảnh ánh sáng môi trường yếu mà không muốn hay không thể dùng đèn ảnh flash. Chức năng chống rung luôn là một yếu tố cần cân nhắc khi lựa chọn ống kính nếu bạn hay phải chụp ảnh ở tư thế cầm máy.

Ống kính có gắn mô-tơ

Để phục vụ mục đích căn nét tự động có ở hầu hết các máy ảnh kỹ thuật số ống kính đơn phản xạ DSLR ngày nay, có nhiều loại ống kính có gắn những mô-tơ bên trong với hệ thống cơ học và/hoặc điện tử kết nối với thân máy để thực hiện chức năng căn nét tự động này (auto focus / AF). Khi lựa chọn ống kính, bạn cần tìm hiểu cơ chế hoạt động và kết nối của mô-tơ trên ống xem có tương thích với thân máy đang sử dụng hay không. Có nhiều thân máy chỉ sử dụng được chức năng căn nét tự động khi lắp các ống kính có mô-tơ, vì vậy bạn cần thận trọng với thông số này trên ống kính đang quan tâm.

Thấu kính hay “thấu nhựa”?

Điều chẳng có gì ngạc nhiên là bên trong các ống kính có gắn một hay nhiều thấu kính mà theo nhiều người nhầm tưởng là luôn làm bằng chất liệu kính (glass). Trên thực tế, ở nhiều ống kính loại “hàng chợ” rẻ tiền, các chi tiết này được làm từ chất liệu nhựa tổng hợp (plastic) mà thông thường có chất lượng hình ảnh kém hơn (và vì thế rẻ hơn) so với các thấu kính bằng kính cao cấp thứ thiệt. Khi lựa chọn ống kính, nếu thấy trọng lượng ống kính có phần nhẹ hơn so với kích thước bề ngoài của ống kính, bạn nên kiểm tra các thông số và tìm hiểu thêm để biết được thực chất ống kính có phải gắn các thấu kính hay chỉ là các “thấu nhựa” trước khi quyết định có nên chọn sử dụng hay không.

Ống chuyển đổi tê-lê (tele-converters)

Các ống chuyển đổi tê-lê là giải pháp “nghèo” giúp người chơi ảnh chuyển đổi các ống kính có tầm tiêu cự ngắn thành các ống kính có tính năng chụp xa như các ống kính tê-lê thực thụ. Đây là các ống nối gắn vào đuôi ống kính để tăng tầm tiêu cự của ống. Tuy nhiên, sau khi gắn ống chuyển đối tê-lê hình ảnh đa phần đều xuống cấp, giảm chất lượng và độ nét. Cực chẳng đã bạn hãy chơi những ống chuyển đổi này…

ST
Theo Vinacamera.com
2008

Leave a Reply